Cây Bò cạp nước

Back to Tin tức về Thảo Cầm Viên

Cây Bò cạp nước

Cây Bò cạp nước

Họ Fabaceae
Tên tiếng Việt Bò cạp nước, Muồng hoàng yến
Tên khoa học Cassia fistula L.
Đồng danh khoa học Cassia rhombifolia Roxb., Cathartocarpus rhombifolius G. Don, Cathartocarpus fistula (L.) Pers., Bactyrilobium fistula (L.) Willd.

Mô tả

Cây gỗ ít khi cao quá 10-15m, với nhánh nhẵn. Lá có trục dài 15-25m; cuống lá 7-10cm. Lá chét 3-8 đôi, hình trái xoan, thuôn, 7-12 x 4-8cm, thường nhọn ở đầu, hình góc rộng ở gốc; cuống phụ 5-10mm. Cụm hoa thành chùm ở nách lá, thòng xuống, thưa hoa, dài 20-40cm. Hoa có cuống 15-35mm; lá đài xoan – bầu dục, 7-10mm, có lông nhung ở mặt ngoài, cánh hoa vàng, hình trái xoan, 30-35 x 10-15mm; nhị 3 cỡ (3 nhị dài, 4 nhị ngắn và 3 nhị tiêu giảm); bầu và vòi nhụy có lông. Quả đậu hình trụ, 20-60 x 1,5-2cm, màu đen; hạt nhiều, dẹp, hình bầu dục, màu nâu bóng.

Thông tin tại TCVSG

Ra hoa 2 đợt: đợt 1 vào tháng 3, có quả từ tháng 7; đợt 2 vào tháng 12. Trong Thảo Cầm Viên, 14 cây được trồng rải rác trong khuôn viên và đều phát triển tốt. Khi cây ra hoa, sâu phát triển rất nhiều.

Phân bố

Loài mọc tự nhiên ở Ấn Độ, Xri Lanca, Java, Xulavedi, được truyền bá từ lâu vào Trung Quốc và đến tận Ai Cập, nay trở thành liên nhiệt đới. Ở nước ta, có gặp ở Đắc Lắc.

Sinh thái

Mọc trong các rừng hỗn giao rụng lá, ít khi gặp trong rừng thưa cây họ Dầu.

Giá trị và công dụng

Cây được trồng làm cảnh quanh nhà, trong các công viên, biệt thự lấy bóng mát và lấy hoa thơm. Hoa chứa tinh dầu thơm rất quý gọi là Ylang Ylang, mùi dễ chịu. Tinh dầu chứa linalol, safrol, eugenol, geraniol, … Hoa được sử dụng phổ biến làm hoa cúng lễ ở đình chùa miền Bắc của nước ta. Nhiều bộ phận của cây cũng được dùng làm thuốc. Vỏ sắc uống dùng trị sốt rét, cũng dùng nấu nước gội đầu cho sạch gàu. Lá giã đắp hoặc nấu nước rửa trị ghẻ, trừ sâu. Hoa khô dùng sắc uống trị sốt rét, hoặc tán bột chữa hen, còn dùng ngâm trong dầu dừa để xức tóc. Hạt cũng dùng chữa sốt định kỳ. Tinh dầu hòa tan trong các chất béo được xem như có tính năng trị sốt rét. Tinh dầu thơm của gỗ pha nước uống trị giun, sốt và chữa ghẻ. Ở Châu Âu, người ta dùng tinh dầu để chữa chứng nhịp tim đập nhanh, huyết áp cao, bệnh đường ruột, bài tiết mủ, chứng bất lực và lãnh đạm tình dục. Gỗ nhẹ, dùng làm bao bì, làm củi.

English Summary

The wood of the tree is used for making posts; the heartwood is very rich in tannins. The bark and pulp of the fruit are eaten with betel leaves. The heartwood can be eaten with fish. In Cambodia, the bark is pounded and applied to snake and scorpion bites. In Thailand, the fruit pulp is used as a laxative and expectorant; the flowers are used to reduce fever and as a laxative; the wood is used to treat worms, especially roundworms. In India, the fruit is used to treat rheumatism and snake bites; leaf sap is used for external skin diseases. In Vietnam, the fruit is commonly used to relieve constipation and facilitate bowel movements. The leaves, bark, and roots are also used similar to the fruit, to treat indigestion, limb pain and fatigue, constipation, or early-stage dysentery. In China, the trunk bark and the fruit adjacent to the pulp are used as medicine; the trunk bark is used for toothache, the fruit for heat-related illnesses and childhood malnutrition, and the fruit adjacent to the pulp for constipation in the elderly.

Chia sẻ bài viết

Back to Tin tức về Thảo Cầm Viên